Ma trận nghịch đảo

Hình học và đại số của các ứng dụng tuyến tính, vectơ và ma trận

Nghịch đảo A⁻¹ là phép biến đổi hoàn tác A. Áp dụng A rồi đến A⁻¹, mọi vectơ đều trở về chỗ cũ: A⁻¹A = AA⁻¹ = I. Nếu A quay 30°, thì nghịch đảo của nó quay ngược lại 30°; nếu A nhân đôi độ dài, thì nghịch đảo của nó chia đôi độ dài.

Không phải ma trận nào cũng hoàn tác được. Nghịch đảo chỉ tồn tại khi A có hạng đầy đủ, tương đương với khi định thức của nó khác 0. Lý do mang tính hình học: nếu A ép phẳng không gian (nén một hướng về 0, giống như ma trận hạng thấp), thông tin bị phá hủy và không có cách nào dựng lại. Ma trận như vậy gọi là suy biến.

Với ma trận 2×2, có một công thức dạng đóng dễ nhớ. Hoán đổi hai phần tử trên đường chéo chính, đổi dấu hai phần tử ngoài đường chéo, rồi chia cho định thức:

Vị trí của nó trong MLNghịch đảo có vai trò trung tâm về mặt khái niệm nhưng trên thực tế lại bị tránh dùng. Phương trình chuẩn của hồi quy thường được viết β = (XᵀX)⁻¹Xᵀy, nhưng các bộ giải thực sự không bao giờ dựng ra nghịch đảo đó; chúng giải hệ trực tiếp vì việc nghịch đảo rất tốn kém và kém ổn định về mặt số học. Biết khi nào một ma trận khả nghịch (hạng đầy đủ) cho bạn biết bài toán của mình được đặt chỉnh hay…
▶ Ma trận nghịch đảo
← Hạng, không gian null và không gian cộtVectơ riêng & giá trị riêng →